🐘 Bài Thơ Chế Về Việt Nam Và Trung Quốc
Về phần mình, Việt Nam tiếp tục tích cực tham gia vào nỗ lực chung của Liên hợp quốc trong việc giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, thúc đẩy quyền con người: Việt Nam đã tích cực tham gia thương lượng và ký Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân 2018 và là nước thứ 10 phê chuẩn Hiệp ước.
Thơ chế trung thu 24: Bài thơ chế vui về tết trung thu. Xin thưa quý ông quý bà Tui đây xin nói về mùa trung thu Hằng năm cứ vào mùa thu Mọi người lại ngóng lại trông chị Hằng Chị Hằng ở tít xa xăm Như mà ai nấy đều mong chị về Trung Thu làTết thiếu nhi.
Việt Nam đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu da giày sau Trung Quốc, mỗi năm xuất khẩu 1 tỷ đôi giày dép sang các nước trên thế giới. - Là một trong những công ty đi đầu trong việc tái chế giấy tại Việt Nam. Với gần 20 năm kinh nghiệm trong việc sản xuất, tái chế giấy cùng đội ngũ công nhân viên, kỹ
Thơ 4 chữ thường thấy trong các bài vè, đồng dao, ca dao, tục ngữ trong dân gian nói về gia đình, mẹ, quê hương. Âm điệu câu văn trong thơ khá vui tươi, dí dóm, hài hước và hồn nhiên. Dưới đây là tổng hợp một số bài thơ 4 chữ ngắn hay và ý nghĩa nhất, bạn nên đọc
Bạn đang đọc bài viết Tạo luồng xanh thông tin cho doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc tại chuyên mục Thị trường của Báo Nông Nghiệp Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư [email protected] hoặc số điện thoại, Viber: 0369024447 .
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE KHOA LUẬN CHÍNH TRỊ *** BÀI TẬP LỚN Đề tài: Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam Họ tên: Nguyễn Thu Thảo Mã sinh viên: 11216970 Lớp: Quản trị doanh nghiệp CLC 63 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com I : Tính cấp thiết
lhmB3L. Lai Tân là một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Hồ Chí Minh. Ông không chỉ là một nhà thơ đơn thuần mà còn là một vị cha , một vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam. Những bài thơ của ông gắn liền với giai đoạn kháng chiến của tổ quốc. Ông có một kho tàng thơ vang danh được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến Lai Tân là một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Hồ Chí Minh. Ông không chỉ là một nhà thơ đơn thuần mà còn là một vị cha , một vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam. Những bài thơ của ông gắn liền với giai đoạn kháng chiến của tổ quốc. Ông có một kho tàng thơ vang danh được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến Lai Tân là một bài thơ được trích từ tập thơ ” Nhật Kí Trong Tù ” trong thời ông bị bắt giam. Hồ Chí Minh mỉa mai, châm biếm sâu cay bọn thống trị bằng ngòi bút trong hoàn cảnh tù đày, gông xiềng. Bài thơ đã bộc lộ rõ sự phẫn nộ của ông về một xã hội cũ nát Mời các bạn hãy đón xem bài thơ đặc sắc này ngay sau đây! Nội Dung – Hồ Chí Minh 胡志明 1890-1969 tên thật là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh. Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng làm việc cho triều Nguyễn, nhưng bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân, ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. – Thân mẫu cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều, bà tính tình hiền hậu, đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh là Nguyễn Sinh Khiêm đều vào tù ra tội nhiều lần vì có tham gia chống thực dân Pháp. – Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, năm 1911 Người quyết định vượt biển sang phương Tây, quê hương của những cuộc cách mạng dân chủ, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển để thực hiện mục đích là dành độc lập, tự do. Trước khi xuất dương tìm đường cứu nước Người đã có thời gian học tại các trường học tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hoà nhập vào xã hội phương Tây. – Người nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin khi hoạt động trên đất Pháp. Chính vào lúc phong trào cách mạng Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác Lênin. Từ đến với chủ nghĩa Mác Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp 1920. – Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc… vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế cộng sản, viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo, truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống… – Từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 tháng Hai 1930 trong những năm tiếp theo, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động cách mạng, có thời gian bị bắt và tù đày trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông 1931-1932, Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo tốt đường lối của Đảng. – Ngày 8 tháng Hai 1941, Người trở về Tổ quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng Năm 1941. – Tháng Tám 1942 với tên gọi mới là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh. Vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Thời gian Người đã viết tập thơ Ngục trung nhật ký, một tác phẩm lịch sử và văn học được đánh giá cao. – Sau ngày Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng Chín 1945 tình hình đất nước vô cùng khó khăn, vì giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội 1954. Sau giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. – Hồ Chí Minh là linh hồn của hai cuộc kháng chiến cứu nước, Người chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược. Hồ Chí Minh là một nhà thơ vĩ đại . Ông sở hữu cho mình những bài thơ vang danh cho đất nước. Những bài thơ của ông đa phần bộ lộ tình yêu thương mãnh liệt. Với ngòi bút sắc bén, ông đã cho ra đời bài thơ Lai Tân nhằm tố cáo, châm biếm chế giễu, lên án nhà tù và chế độ xã hội Trung Hoa dân Quốc Nếu bạn là một người yêu thơ thực thụ, chắc chắn sẽ không thể bỏ lỡ một bài thơ đặc sắc và hấp dẫn như thế này được phải không? Ngay bây giờ mời các bạn cảm nhận và suy ngẫm về bài thơ Lai Tân này nhé ! 監房班長天天賭, 警長貪吞解犯錢。 縣長燒燈辨公事, 來賓依舊太平天。 Lai Tân Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ, Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền; Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự, Lai Tân y cựu thái bình thiên. Dịch nghĩa Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc, Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải; Huyện trưởng chong đèn làm việc công, Lai Tân vẫn thái bình như xưa. “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được kết hợp từ hai yếu tố “trữ tình” và “hiện thực”, “Lai Tân” là một trong những bài thơ thể hiện rõ những yếu tố đó. Nó là một thành công của Bác trong việc kết hợp bút pháp tả thực và trào phúng vẽ nên bức tranh thời sự về chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch. Với tư cách là người thư ký trung thành của thời đại, Bác đã ghi lại một cách khách quan những cảnh “Giam phòng ban trưởng thiền thiên đổCảnh trưởng tham thôn giải phạm tiềnHuyện trưởng thiêu đăng biện công sự” Hồ Chí Minh chỉ có thể mỉa mai, châm biếm sâu cay bọn thông trị bằng ngòi bút trong hoàn cảnh tù đày, gông xiềng. Từ cái mặt bên ngoài đến tận cùng những ngóc ngách bên trong của bộ máy thống trị Trung Hoa quốc dân đảng đã chứa đầy những mâu thuẫn. Tác giả “Lai Tân” đưa ra ba gương mặt điển hình của bộ máy chính quyền Tưởng Giới Thạch đó là “Ban trưởng”,”cảnh trưởng”, “huyện trưởng”. Cái chức “trưởng’ của họ khá oai vệ, đầy uy lực, nhưng việc làm của họ đầy khuất tất, bất chính. Khuôn khổ bài thơ rất ngắn gọn nhưng lại được đặt liên tiếp ba chừ “trường” trong ba câu thơ đầu là sự “cố tình” dùng phép lặp của Bác trong việc dựng lên những chân dung tiêu biểu của giai cấp thống trị. Ba câu thơ – mỗi câu là một bức tranh sống động mang tính thời sự nóng hổi, chân thật đến từng chi tiết được vẽ bằng nét bút bình thản, lạnh lùng. Bức thứ nhất bày ra trước mắt mọi người là hình ảnh một “ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc”. Bức thứ hai là hình ảnh “cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải”. Cả ban trưởng và cảnh trưởng đều là những công cụ thi hành pháp luật rất đắc lực của cái xã hội đầy rẫy những bỉ lậu, xấu xa. Chúng khoác trên mình chiếc áo “công lý” để làm những việc “bất công lý” một cách thường xuyên hết ngày này đến ngày khác. Chức “trưởng” của chúng đã to, sự phạm pháp của chúng còn lớn hơn ngàn vạn lần. Tiếng cười trào lộng bật lên từ nghịch cảnh đó. Thoạt tiên, mới nhắc đến “ban trưởng”, “cảnh trưởng” thiết tưởng đó là những người cầm cân nẩy mực chắc hẳn phải công minh, trong sạch nhưng ta thực sự bất ngờ khi biết chúng chẳng qua là những con mọt dân, gây rối, bắt bớ dân để mà tham nhũng, cờ bạc. Chúng mượn cái danh để tự đặt ra cho mình cái quyền thích làm gì thì làm. Đất Lai Tân có ban trưởng, cảnh trưởng tưởng chừng cuộc sống bình yên nhưng trớ trêu thay trật tự an ninh không được đảm bảo, những vi phạm pháp luật vẫn diễn ra đầy rẫy mà những kẻ đứng đầu bộ máy thống trị ở Lai Tân cũng chính là những kẻ cầm đầu những chuyện phạm pháp đó. Nực cười thay, nhà tù là nơi giam giữ những kẻ phạm tội vậy mà lại chính là nơi để tội phạm có thể thịnh hành rộng rãi nhất, tiêu biểu hơn cả, nhiều hơn cả vẫn là tội phạm cờ bạc mà chính giai cấp thống trị nhà lao cũng là những “đổ phạm”. Cái nghịch cảnh “đánh bạc ở ngoài quan bắt tội, trong tù được đánh bạc công khai” là hiện thực thối nát của nhà tù Tưởng Giới Thạch không thể phủ nhận được. Cấp dưới sống và hành động bê tha, tàn ác như thế, vậy mà cấp trên – huyện trưởng – vẫn đêm đêm “chong đèn lo công việc”. Mức độ mỉa mai, châm biếm của tác giả tăng dần. Kích thước của những bức tranh về sau to hơn, rộng hơn bức trước. Từ chân dung một ban trưởng trông coi một phạm vi nhà tù nhỏ hẹp tới một cảnh trưởng cai quản một địa phận lớn hơn đến một huyện trưởng cai trị một vùng rộng lớn và bao quát cả quyền của ban trưởng cảnh trưởng. Bức tranh thứ ba mở ra hình ảnh “Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự’ vẻ ngoài tưởng mẫu cách, sát sao với “công việc” nhưng thực ra lại là một kẻ quan liêu, vô trách nhiệm, không biết tay chân, cấp dưới làm những gì, phạm pháp những gì. Câu thơ phạm luật “nhị tứ lục phân minh” ở một chữ “công”. Bao mỉa mai, đả kích sâu cay dồn nén vào một chữ “công” đó. Huyện trưởng “lo công việc” hay là mượn “việc công” để tạo một tấm bình phong che cho mình “io việc riềng”, “chong đèn’ hút thuốc phiện? Tác giả đặt chữ “đăng” chính giữa câu thơ không nhằm mục đích tỏa sáng chận dung huyện trưởng mà nhằm đối lập, phản chiếu cái tối tăm của bộ máy thông trị Lai Tân nói riêng, hệ thống chỉnh quyền Tưởng Giới Thạch nói chung. Giữa thực trạng ấy, thử hỏi bình yên ở đâu? Câu trả lời là Bình yên vẫn ở chốn Lai Tân này! “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” Câu trả lời bất ngờ đến mức khiến người đọc ngã ngửa người. Thì ra là thế! Lời bình giá đã đi ngược lại với tất cả những mục ruỗng, thối nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch được phơi bày ở trên. Từ lời bình giá đó đã vút lên một lời đã kích mạnh mẽ. Tác giả “Lai Tân” đã kết luận đầy châm biếm, mỉa mai sắc sảo và rất hùng hồn về cái xã hội ấy. Thủ pháp nói ngược của Bác đã làm bật ra tiếng cười trào phúng. Trờiđất Lai Tân vẫn thái binh”. Đúng vậy! Nhưng chỉ một chữ “vẫn” cũng đủ “điếng người’. Một cái bĩu môi dài, một cái cười khẩy, một giọng mĩa kéo dài bắc đầu từ chữ “vẫn” ấy. Nghệ thuật nâng cao – quật mạnh, nâng cao 1 quật càng được Bác sử dụng rất công hiệu ở câu thơ cuối bài này đã lay tỉnh người đọc nhìn sâu vào xã hộ ấy mà xem xét, đánh giá đúng thực chất của nó. Như con đà điểu thấy nguy hiểm là húc đầu vào sâu trong cát, giai cấp thống trị ở Lại Tân thấy trời đất thái bình là tưởng thây yên ổn chúng bằng lòng với cách thái bình đó mà không ngờ rằng dó chi là cảnh thái bình giả dối, trong đó chất chứa rất nhiều sóng gió, hiểm nguy. Điều ấy cũng thể hiện sự ngu dốt, vô trách nhiệm hết sức của bọn chúng. Ba bức tranh – ba chân dung của ba kẻ đại diện cho giai cấp thông trị chế độ Tưởng Gịới Thạch ghép lại với nhau thành một bức tranh lớn – một chân dung lớn đầy đủ, trọn vẹn về xã hội Trung Hoa quốc dân đảng. Với “nghệ thuật vế đường tròn dồng tâm”t tác giả “Lai Tân’ đã vẽ được một bức tranh sinh động mỗi lúc một toàn diện hơn chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch. Nhà “dột từ nóc dột xuống” chỉ qua một huyện Lai Tân mà cả bộ mặt thối nát, bỉ lậu của xã hội Tưởng được phơi bày. Tác giả đã phủ định triệt để tận gốc giai cấp thống trị ấy. Cái “loạn” của mảnh đất Lai Tân được tô đậm bằng màu xám, màu tối của những bê tha, xấu xa, vô trách nhiệm, rất quan liêu của văn võ bá quan. Và hơn thế, nó được “trang trí” bằng sự “thái bình” nhưng ai cũng hiểu trời đất Lai Tân “thái bình” như thế nào. Cách kết thúc bài thơ của Hồ Chí Minh giống lối thơ trào phúng truyền thống của các nhà thơ trào phúng Việt Nam như Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương… đồng thời đậm chất gây cười của phương Tây. Hai chữ Lai Tân dường như không chỉ là một tên huyện đơn thuần mà tự bản thân nó đã mang một lớp nghĩa là mảnh đất mới, sáng sủa, bình yên. Và quả thật, huyện Lai Tân rất bình yên – bình yên “như xưa”. Nhưng “như xưa” ở đây nghĩa là sự trì trệ, là chậm chạp không phát triển đã thành truyền thông; “như xưa” là không hề đổi thay, là duy trì những cái xâu xã, bĩ lậu của ngày trước. Hồ Chí Minh đã đả kích trực tiếp và khách quan chế độ Tưởng, do đó sức tế cáo, châm biếm của nó rất mạnh mẽ, quyết liệt. Bác đã giáng những đòn liên tiếp, chính xác vào xã hội ấy khiến nó phải “quần lèn” ở nhát đòn quyết định có tên là “thái bình”. Không phải chỉ ở “Lai Tân” mà ở rất nhiều bàỉ thơ khác của “Nhật ki trong tu Bác cũng đã đả kích châm biếm sâu sắc xã hội Tưởng Giới Thạch như “Trảng binh gia quyến”, “Đổ”, “Đổ phạm’. Đó là “những ngón đòn trào phúng thâm thúy mà Bác đă đánh thẳng vào kẻ thù, vạch trần cái vô lý, tàn tệ” của chế độ ấy khiến “ta cười ra nước mắt”. Tiếng cười trào lộng cất lên vừa trữ tình, vừa đẩm chất trí tuệ khiến ta thoải mái, hả hê. Ta chợt nhớ tới Tú Xương ngày trước cũng từng có một tiếng cười trào lộng như thế “Tri phủ Xuân Trường được mấy niên Nhờ trời hạt ẩy cùng bình yên”. Đừa ông phủ Tiếng cười dân tộc đã thâm nhuần trong thơ hiện thực trào phúng của Hồ Chí Minh mà càng đọc ta càng thây nó sâu cay. “Lai Tân” là một bài thơ cũng năm trong số đó. Vừa có ý nghĩa hiện thực chân xác, vừa mang tính chiến đâu sắc mạnh tố cáo châm biếm cao độ, bài thơ đã giúp ta hiểu thêm về xã hội Tưởng Giới Thạch và hiểu hơn tâm hồn tài năng của Bác. Trên đây, đã dành tặng cho bạn bài thơ Lai Tân sâu sắc của nhà thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ mang tính hiện thực sâu sắc lột trần một xã hội thối nát. Đồng thời tố cao, châm biếm những vị được xem là lãnh đạo đất nước nhưng lại sống quá bê tha bỏ bê, chèn ép người dân. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi! shop hoa tưoi thanh pho vi thanh hau giang shop hoa thành phố vị thanh , shop hoa tươi thành phố vị thanh ,shop hoa tươi an giangiang xem thêm >> hoa sinh nhật đẹp , hoa khai trương, hoa đám tang, điện hoa , hoa lan hồ điệp . shop hoa tươi , Địa chỉ shop hoa xem thêm >> hoa sinh nhật đẹp , lẵng hoa khai trương , điên hoa chia buồn , dien hoa shop hoa tươi quang binh
Tất cả những bài thơ này đều đăng tải trên các trang facebook cá nhân hay trên các trang blog lề trái, chúng đều có chung một nội dung đau cái đau bị xâm lược và giận dữ trước các chính sách ngăn chặn của nhà cầm quyền đối với các hoạt động biểu tỏ thái độ của người dân đối với phương Bắc. Văn học sử Việt Nam không bao giờ hết hãnh diện với bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Đại Vương, một tuyệt phẩm cổ động tinh thần binh sĩ trước giặc phương Bắc của Trần Hưng Đạo. Từ năm 1284 tới nay cứ mỗi lần có giặc lấn chiếm bờ cõi là cả nước lại được dịp suy gẫm từng câu từng chữ trong tác phẩm chống giặc bất hủ này. Tuy nhiên Việt Nam không phải lúc nào cũng bị động trước giặc phương Bắc, gần 150 năm sau, trận chiến lịch sử Chi Lăng khiến 10 vạn quân của nhà Minh bị nghĩa quân Lam Sơn đánh cho thất điên bát đảo buộc quân Minh phải lâm vào thế cầu hòa để dược yên thân rút quân về nước, vào ngày 29 tháng 4 năm 1428 Bình Định Vương Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô Đại Cáo” tác phẩm thứ hai trong lịch sử trở thành bất tử trong văn học yêu nước. Tác phẩm này được sáng tác theo thể loại Cáo” một trong vài thể loại văn học Trung Hoa cổ khó sáng tác nhưng rất được xem trọng. Theo TS Phạm Tuấn Vũ, Khoa Ngữ Văn - Đại học Vinh thì Cáo là một thể trong loại văn chiếu lệnh, loại văn được người xưa coi trọng nhất. Theo TS Phạm Tuấn Vũ thì giá trị của “Bình Ngô đại cáo” trước hết là ở phương diện một trước tác chính luận, loại văn bản được đánh giá cao khi có hệ thống lập luận chặt chẽ, thể hiện sâu sắc và sinh động những vấn đề có ý nghĩa trọng đại của quốc gia dân tộc. Trong thời đại thơ chữ Hán gần như tuyệt chủng tại Việt Nam thể loại hịch, phú và đặc biệt là cáo trở nên khó khăn hơn lúc nào hết cho người còn chút lòng với văn chương cổ thi, tuy nhiên đối với thi sĩ Kha Tiệm Ly, nói về giặc phương Bắc hiện nay thì không gì thích hợp hơn thể loại mà Nguyễn Trãi đã dùng trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Hoàng Sa nộ khí phú Giới trẻ xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hôm 12/6/2011 tại Hà Nội. AFP Photo. Theo nhà báo Phạm Viết Đào cho biết trên trang blog của ông thì thi sĩ Kha Tiệm Ly tên thật là Thái Quốc Tế sinh năm 1946 tại Bến Tre. Hiện ông đang sống ở Mỹ Tho. Trước ngày 30/4/1975 thi sĩ Kha Tiệm Ly đã có nhiều bài thơ hay đăng trên các báo và được ngâm trên chương trình Thơ của Hồng Vân Đài phát thanh Sài Gòn. Tác phẩm “Hoàng Sa nộ khí phú” của Kha Tiệm Ly được sáng tác trong lúc Internet làm bá chủ trong mọi sinh hoạt học thuật nhưng cái hồn của bài thơ vẫn có khả năng nhắc nhở những ai còn chút lòng với dân tộc, nhất là trước họa diệt vong là có thật trước mắt. Ngựa cũ quen đường,Đĩ già lậm phế hưng mỗi thuở khác nhau,Mộng bá chủ bao đời y hệt! Ta thấy ngươi,Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Trường An thây chất chập chùng,Bờ Vô Định xương phơi chất ngất! Đã biết,Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,Nếu động can qua thì mịt trời tang mà sao,Chẳng lo điều yên nước no dân,Lại quen thói xua quân chiếm đất?Như nước ta,Một dải non sông, nam bắc chung giềng,Trăm triệu anh em, trước sau như Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long, là máu là xương,Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là xương đâu lẽ tách rời,Thịt da dễ gì chia cắt?Mà là liền tổ quốc phồn vinh,Mà là khối giang sơn gấm trăm triệu nhưng vốn một lòng,Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,Niên thiếu cũng thừa người kiệt năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma1,Chợt nghe tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt 1.Hùng khí dù dậy trời Nam,Nghĩa nhân lại tràn đất BắcThương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang 2Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút 3.Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,Hoa Kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,Họa cùng chia lúc sóng vùi gió các ngươi như kẻ một nhà,Thương các ngươi như người chung bọc!Thế mà nay,Ngươi lại lấy oán trả ơn,Ngươi lại lấy thù báo đức!Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá chấp hải qui,Chẳng theo công nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,Lậm thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo cho ngươi biết; dân tộc taTừng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm đánh Tây bằng ngọn tầm vông,Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!Vì khát tự do mà uống nước đìa,Vì đói độc lập mà ăn cơm chi tóc gội sa trường,Đâu quản thây phơi trận liệu bảo nhau,Nhìn thây Gò Đống mà liệu thắng liệu thua,Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,Thì ta cũng có tuần dương, đại vũ khí, thì kẻ nhược người cường,Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?Thư hãy xem tường,Hoàng Sa hạ bút. Tạm rời những câu chữ hào hùng cổ thi trên mực tàu giấy bản, quay lại với thế kỷ 21, khi mà văn học thường được sử dụng như một phương tiện chuyển tải những ẩn ức thời đại cũng như những phản ứng mang tính thời sự được không gian Internet hỗ trợ triệt để. Chúng ta may mắn có được những bài thơ mà hồn phách của chúng sừng sững tuyên chiến với những đồng minh phương Bắc mà trước đây vài mươi năm cho tới thời cổ đại chưa bao giờ xuất hiện trên đất nước Việt Nam. Thế lực này đã thúc đẩy cho những vần thơ chống Trung Quốc hào sảng hơn, khí phách hơn và nhất là căm hờn hơn trước những hậu duệ của Lê Chiêu Thống. Biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam không là cái mode như tại các nước phương Tây. Nó có đổ máu. Nó có tù đày, tra tấn. Nó cũng có bách hại âm thầm trong bóng tối và kể cả xóa tên trong danh sách cộng đồng. Vậy mà người ta vẫn đi biểu tình, đi trong ý thức của một cuộc lên đường đầy bất trắc. Nhà văn Nguyễn Tường Thụy đi trong tâm thức ấy. Ông nhắn lại với vợ mình qua bài thơ “Hãy để anh đi” trước khi đi biểu tình như là ra trận. Bài thơ được sáng tác vào ngày 1 tháng 7, ngày Chúa Nhật đầu tiên của năm 2012 khi người Hà Nội đi biểu tình chống Trung Quốc. Hãy để anh đi Người Việt Nam tập trung biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội hôm 1/7/2012. Photo AFP/Hoang Đình Nam. Nay anh không về, đừng lo nhé nghe em Hãy cứ coi như anh đi làm trả nợ Nợ của Vua Hùng, nợ từ tiên tổ Cho chúng mình non nước Việt hôm gì đâu, anh đi vắng một ngày Hay thêm nữa, làm sao mà sợ hãiAnh tắm gội, cạo râu, thay quần áo mới Nhỡ có bề gì, đỡ vất vả cho đừng lo, còn đồng đội thân quen Anh ở nơi đâu, bạn cũng tìm ra được Có kết tội, tội anh là yêu nước Chẳng bạo tàn nào ngăn cản được em cho anh nói gở, ngắt ngang lời Thời buổi nhiễu nhương, điều gì mà không thể Anh “về muộn” mấy lần, dẫu em lo đến thế Thêm một lần thì cũng có sao một thời tuổi trẻ đã qua mau Lo trấn ải, quên rằng mình bạc tócGiờ lại lũ giặc quen từ phương Bắc Hãy để anh đi, còn chút sức cuối cùng. Trong khi đó cùng lúc tại Sài Gòn, nhiều người đi biểu tình bị đánh, bị bắt giữ như những kẻ phạm pháp. Không ai có thể giải thích vì sao công an Việt Nam lại đánh đập những người chống Trung Quốc. Nếu họ lãnh lương do Bắc Kinh chi trả thì dễ hiểu, đàng này áo quần, giày dép nhà cửa của họ đều lấy từ tiền thuế của nhân dân Việt Nam. Nhà thơ Đỗ Trung Quân tả lại niềm đau khi thấy đồng bào anh đi biểu tình bị đánh qua bài thơ “Không đau và rất đau” Không đau và rất đau Cô Huỳnh Thục Vy bị bắt một cách thô bạo ngày 1 tháng 7, 2012. TTCCT/danlambao TTCCT/danlambao Các anh bẻ quặt tay tôiDẫu gìCũng không đau lắmCác anh thúc cùi chỏ vào hàm tôiThú thậtCũng không đau lắmCác anh đạp vào mặt tôi Dẫu gìCũng không ê ẩm lắmCác anh dúi chúng tôi vào xeThú thậtCũng chỉ ngồi chật một tíCác anh kẹp cổ lên gối tôiDẫu gì cũng chỉ bầm dập chútCái chúng tôi đaurất đau...Cái chúng tôi bầm dậpCái chúng tôi ê ẩmChính làCác anh thay mặt kẻ cướp nướcBọn cướp biểnBẻ tay, đánh đập, bắt bớ, đàn ápChính - đồng- bào - mình Có thể những người công an thi hành bạo lực giữa đám đông không bao giờ lên Internet để đọc những bài thơ nói về họ, tuy nhiên người ta không tin rằng con em của những kẻ dã tâm ấy lại mù tịt vể Internet. Khi chúng thấy hình ảnh cha anh của mình xuất hiện bên cạnh các bài thơ miêu tả sự trân tráo, lạnh lùng đánh đập đồng bào thì không biết cái gia đình ấy có còn cảm thấy ngon miệng trong bữa cơm vừa được chan bằng máu của người bị đánh hay không? Nhắc đến Hoàng Sa thì hình ảnh ngư dân sẽ là những tiếng kêu tang thương đầu tiên nhắc nhở cả dân tộc một sự thật vẫn diễn ra hàng ngày họ bị xua đuổi, tấn công, bắt giữ trên chính vùng biển của ông cha mình để lại. Tác giả Bùi Công Tự với bài thơ “Những ngư phủ anh hùng” lột tả những đau đớn mà lẽ ra họ không phải chịu. Những ngư dân ấy bám biển kiếm sống nhưng đồng thời đã trở thành chiến sĩ tự khi nào. Những ngư phủ anh hùng Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt hồi năm lysonforum. Source lysonforum. Khi các ngư dân ra Hoàng Sa đánh cá trong bão bùng và giặc lạ tấn công các anh đã trở thành người chiến sĩ bảo vệ chủ quyền biển đảo non sông Vùng biển ấy ta đời đời đánh bắt ông truyền cha, cha truyền lại cho con Hoàng Sa ơi, thân quen từng luồng lạch những đoàn tàu đi từ đảo Lý Sơn Chúng đã cướp của ta quần đảo ấy biển của ta mà chúng cấm dân ta các ngư phủ vẫn kiên cường bám biển không một ngày vắng mặt ở Hoàng Sa Chúng cướp bắt bao lần dân ta đó đã giam cầm, đã đánh đập dã man giờ lại bắt chín công dân ta nữa mối thù này muôn thuở không tan Chín ngư phủ, chín anh hùng nước Việt giờ phút này đang chưa biết nơi đâu Mai Phụng Lưu ơi, các anh còn sống sót có ai chìm nơi đáy biển sâu Hơn một tháng chúng giam cầm đàn áp lũ cướp ngày kia tội ác không ghê biển giông tố, các anh thì đói khát có ai chăng ra rước các anh về? Về đi các anh, vợ con trông đỏ mắt mấy chục đêm rồi vắng bặt tin nhau các anh không về ai người gánh vác những vành tang không thể trắng trên đầu. Blogger Gió Lang Thang với bài thơ “Viết cho một ngày tháng Bảy” khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi cho số phận Việt Nam. Tháng Bảy mưa ngâu theo truyền thuyết và Tháng Bảy biểu tình trong nước mắt có khác gì nhau? Viết cho một ngày tháng bảy Người dân biểu tình bị công an ngăn chặn tại góc đường Điện Biên Phủ, Trần Phú - Hà Nội hôm 22-07-2012. File photo. Hình hài Tổ quốc tôiBốn ngàn năm chân đấtTừ thủa cha ông dựng cờ mở nướcĐến bây giờ chân vẫn lấm nước này có phải sinh từ truyền thuyết nàng NgâuNước mắt cứ rơi mỗi ngày chứ không riêng gì tháng bảyHận thù căm phẫn trong lòng người vẫn từng giờ bùng cháyTiếng khóc mẹ già vẫn day dứt từng vẽ hình hài Tổ quốc tôiNhững chiến công trong sử sách vẫn được đem ra đếmNhưng không đếm đượcCó bao nhiêu giọt máu đào rớt xuống quê sử đất nước đâu chỉ được viết bằng máu xươngMà bằng cả tiếng nói thân thương mà khi lọt lòng mẹ gọiBằng cả ca dao chầu văn hát nóiTiếng hát mong chờ khi mẹ tiễn con đi…Ai vẽ hình hài Tổ quốc tôiVẽ nên hình Nam Bắc phân liĐể mấy triệu người dân đất ViệtÔm súng đạn ngoại bang mà trút thẳng vào nhauRồi biết bao người nằm dưới những thân tàuChìm dưới biển Đông khi trên đường bỏ xứGạt nước mắt khi nhìn quê hương từ mặt biểnLần cuối cùng nhìn về chữ S Việt Nam?Để hôm nayNhững những người nông dân lầm lũiKhóc không thành lời trên mảnh đất mìnhRơi vào tay kẻ lạNhững người vợ khóc chồng những đứa nhỏ khóc chaĐi biệt không vềCó biết chăng?Những người con xót xa vì mẹ ViệtBước xuống đường hô vang tên đất nướcNhìn thấy trước mặt mình là những tai Nam ơi! Con xin gọi tên Người là Tổ quốcNon nước này chưa một phút bình yênĐứng cạnh con, người hô “Muôn năm!” khản tiếngCon cay mắt mình rồi, ơi hỡi Việt Nam! Bài thơ cuối cùng chúng tôi giới thiệu hôm nay xin dành cho tác giả Đỗ Trọng Khơi với bài Buồn Thiêng. Nỗi buồn mang tên thiêng liêng mà tác giả gợi mở mặc dù không một chữ nào nhắc tới Trường Sa, Hoàng Sa nhưng người đọc man mác cảm nhận rằng cái nỗi buồn ấy nếu không vì đất nước, vì dân tộc thì yếu tố nào làm cho nó trở thành thiêng khiến Đỗ Trọng Khơi phải quỳ xuống như quỳ trước mẹ hiền? Buồn thiêng Thanh niên, sinh viên xuống đường phản đối TQ lấn chiếm lãnh hải Việt Nam. AFP photo. Tôi quỳ trước Nỗi Buồn như quỳ trước MẹMẹ thiêng liêng và Nỗi Buồn cũng thếtrước Mẹ - con được còn thơ bé!trước Nỗi Buồn – con sẽ lớn khôn lên! Sống nghĩa là mang Nỗi Buồn thiênggì cao quý hơn. Gì lớn lao hơn vậy?Tôi - người lớn tuổi cô đơn. Tôi - trẻ thơ khờ dạitôi sợ Nỗi Buồn rời bỏ tôi! Niềm vui dù không đến trong đờikhông niềm vui con vẫn là con mẹkhông Nỗi Buồn trái tim con sẽtro lạnh dưới mặt trời. Tầm vóc Nỗi Buồn mang tầm vóc Con Ngườicái tầm vóc - cội nguồn nhân tính con người mang sứ mệnh thực hiện niềm vui sướngvà Nỗi Buồn - vị bảo mẫu niềm vui. Ẩn sâu nơi hồn cốt mỗi con ngườitrong tiếng thở than, tiếng thét vang căm giậnthanh gươm tuốt trên tay người lính trậncó Nỗi Buồn gươm sẽ hoá gươm thiêng! Theo dòng thời sự Thái Bá Tân và những bài thơ 5 chữ Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc đánh đập, tịch thu tài sản Người dân nghĩ gì về những cuộc biểu tình chống TQ? Khi những người yêu nước bị biến thành tội phạm Hà Nội tiếp tục biểu tình chống TQ ngày 22/7 Thơ Đỗ Trung Quân Những bài thơ viết vội từ hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc Hịch Tướng Sĩ Những bài thơ yêu nước Thư gửi cho chồng của Huỳnh Thục Vy
Blog thơ chế hài hước vui cười chọn lọc tuyển tập những bài hay nhất sưu tầm về tình yêu-tình bạn-vợ chồng...Bạn đang xem Thơ chế chửi trung quốcĐây là bài thơ vui mà Văn Nguyễn sưu tầm được từ Facebook và xin được chia sẻ lại cùng các bạn. Không rõ tác giả bài thơ là ai. Tuy nhiên, những lời thơ cũng đáng để chúng ta học hỏi thêm và suy thêm Tải Game Chiến Dịch Huyền Thoại Thái Lan, Chiến Dịch Huyền ThoạiXem thêm Tải Game Xếp Hình Cổ Điển - Download Game Xếp Gạch Cổ ĐiểnBọn Tầu là nó rất thâmNó cho tàu lớn nó đâm vào mìnhNhưng mà ta rất thông minhCho đâm thoải mái - chụp hình đưa lênXong rồi ta họp mấy bênTập hợp bằng chứng trình lên hội đồngChứ ta chẳng dại xù lôngNó là nước mạnh lại đông hơn nhiềuTa càng quá khích bao nhiêuChúng nó càng có thêm nhiều lý doViệt Nam ta thắng nước toKhông phải vì khoẻ - nhớ cho một điều!Cũng không phải do ta liềuMà do khéo léo xoay chiều ngoại giaoLời của Bác dặn ngày nàoRằng ta phải biết dựa vào anh emMột mặt cảnh giác ngày đêmĐừng cho tụi nó có thêm nhiều tròThôi thì các bạn nhớ choĐừng nên suy luận lo bò trắng răngCũng đừng có nói lăng nhăngCũng đừng quá khích cho rằng chiến tranhBọn Tầu dở thói lưu manhCũng để kích động dân lành của taXong rồi ăn vạ kêu laĐổ cho nước Việt của ta làm liềuThôi thì sống cạnh thằng điêuThì ta phải nhớ một điều không quênĐối đầu với nó không nên !Mà phải khéo léo kéo thêm bạn bèCũng nên tỉnh táo khi ngheNhiều bọn phản động giả phe bên mìnhKích động dân chúng biểu tìnhXong rồi phá quấy để mình bị oanBà con tụ tập theo đoànNếu gặp kẻ xấu nó toan dở tròThì bà con phải nhớ choChặn đứng hành động cả lò nó ngayKhông thì sẽ lại không hayTừ người tử tế thành ngay bọn liềuThế thôi chỉ có mấy điềuTôi nói ngắn gọn - nói nhiều không Tổng thống Mỹ gọi điện cho Trung QuốcA lô, "chú Tập" phải không?Mấy thằng em nói, chú ngông quá trờiBiển Đông là của nhà ngườiMà sao chú định nuốt tươi cơ àGiàn khoan, tàu chiến đem raChú hù chú dọa, như là trẻ conTrong nước, chú vẫn om sòmHoa Đông chú quậy, chẳng còn chỗ chơiPhải chăng, chỗ chú lắm ngườiĐem ra thiêu bớt, thịt tươi máu hồngViệt Nam, cái nhọt trong lòngBao đời nhà chú vẫn lồng lộn lênAnh nhắc để chú khỏi quênTham vọng quá lớn là đền mạng ngheSách vở chú học lại đêMấy nghìn năm trước chú về ngó nha ...Hỏi xem, Cụ Kỵ Ông BàBạch Đằng Giang đó hồn ma bao người ...Hỏi xem trận chiến Ngọc HồiBao nhiêu thằng đã bị mồi lửa thiêu ...Anh thề, anh chẳng nói điêuNghe trận Hàm Tử anh phiêu cả hồnThôi mà đừng cậy... to conChạm vào bọn họ, chẳng còn răng đâu ...Bài học này anh vẫn đauLịch sử nước Mỹ gột nhầu chẳng phaiThôi em - Tập - chớ đùa daiAnh đây cũng bực, đứng ngoài không yênChẳng nghe đừng tưởng anh hiềnMặt anh nóng vụ Triều Tiên lâu rồiBiết là núp bóng chú thôi ...Liệu hồn... bướng bỉnh, anh chơi chú liềnThôi nha! Điện thoại tốn tiềnNhớ lời anh dặn... chẳng phiền chú emTiếp tục bổ sung 1 bài thơ chế Tàu Khựa nữaViệt Nam cưỡi Rồng bay trong gióTung Của cưỡi chó sủa gâu gâuViệt Nam đang sống bình yênBọn Tung Của cứ làm phiền Việt sư cái lũ Hán thamBay đừng có tưởng nước Nam sợ màyTừ xưa dân của "choa" đâyTrẻ già trai gái dựng xây nước nhàMỗi khi cần phải xông phaDân choa quyết chí không tha thằng nàoHoàng - Trường Sa của chúng taoQuyết tâm bảo vệ chẳng nao núng lòngDân choa gan dạ anh hùngNăm châu bốn biển đã từng xuýt xoaTrí-mưu-đức-dũng những làLuôn luôn ở thế bậc cha chúng màyTiên sư cái lũ mặt dàyQuanh đi quẩn lại cắt dây nhà bàBay đừng cậy thế chua ngoaTo mồm lớn tiếng mà qua dở tròTiền sư cái lũ Tàu ôTham lam vỗn dĩ là đồ bất lươngXưa kia tràn xuống biên cươngNướng bao nhiêu phận dân thường nơi đâyMáu xương đổ xuống đất nàyƯơm mầm dũng khí mỗi ngày thêm xanhNếu bay còn muốn tung hoànhThì choa lại quyết đồng thanh diệt thùTiên sư cái lũ Tàu phùLòng lang dạ sói bay ngu suốt đờiĐừng hòng đi cướp của ngườiLấn giang sơn, lấn biển trời nước NamLàng giềng chi với sài langMiệng thì hảo hảo, bụng đầy thép gangDân choa hiếu nghĩa đường hoàngBay là lũ chó cắn quàng cắn xiênTổ cha cái lũ Tàu điênSao bay lại cứ làm phiền dân choaHãy mau cút xéo về nhàĐể còn đẹp mặt mẹ cha chúng màyLại thơ chế TàuChị đây hơn tuổi chúThủ tướng mấy nhiệm kìDân Đức bầu cho chịCòn chú, đảng bầu hiChị nói cho mà biếtĐừng đực mặt thế kiaĐừng giả câm giả điếcChơi bẩn, chú nhất nhìChú một vừa hai phảiĐừng ức hiếp láng giềngHàng xóm của nhà chúXem đi, có ai thương?Từ Nhật, Hàn, Ấn ĐộMyanmar, Việt NamChú xỏ mũi vào cảCướp mãi chẳng rầy ràĐừng hòng qua mặt chịChú bày trò khoan dầuHơn ai hết chú biếtCòn lâu mới có màuChú biết vùng biển ấyVừa sâu lại bão nhiềuVốn bỏ ra một chụcThu về vài đồng bèoDầu, chú chơi đòn gióCái mà chú muốn làÉp Việt Nam thế yếuBắt họ thần phục màBởi thế chị nói thậtChú hơi bị ngu nhiềuChú đẩy Việt Nam chạyNhư Nhật, Đài, Mỹ theoThế là chuốc lấy hoạCả cửa ngõ Biển ĐôngĐều bạn của Mỹ cảChú thành nằm trong chuồngĐừng chủ quan mãi nhéĐừng khinh thường họ nghèoTung hết lực ra đánhThế nhà để ai coi?Khôn hồn chơi cho đẹp"Bốn tốt" họ để yên"Mười sáu chữ" họ giữVới họ, vẫn hoà bìnhĐài Loan, hỏi bố chúHơn sáu mươi năm rồiTừ hồi chú chưa đẻTrung Quốc dám sờ đuôi ?Còn nữa...
bài thơ chế về việt nam và trung quốc