🎎 Bình Luận Bản Án Tranh Chấp Hợp Đồng Tín Dụng
Ngày 29/10/2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức phiên họp tháng 10 năm 2020. Dự phiên họp có các đồng chí Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; đại diện lãnh đạo: Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, Ban Nội chính, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Liên đoàn Lao động tỉnh, các Ban HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban
Khóa luận Tốt nghiệp Học viện Tài i LỜI CAM ĐOAN Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu riêng cá nhân Các số liệu thơng tin khóa luận có nguồn gốc trung thực xuất phát từ tình hình thực tế Ngân hàng An Bình Chi Nhánh Hải Phịng Sinh viên thực tập VŨ KHẮC TỒN SV: Vũ Khắc
Khóa luận Tốt nghiệp Học viện Tài i LỜI CAM ĐOAN Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu riêng cá nhân Các số liệu thơng tin khóa luận có nguồn gốc trung thực xuất phát từ tình hình thực tế Ngân hàng An Bình Chi Nhánh Hải Phịng Sinh viên thực tập VŨ KHẮC TỒN SV: Vũ Khắc Tồn Lớp: CQ49/15.01 LUAN VAN CHAT LUONG download
Quyết định: số 233/2017/QĐST-DS ngày 14/07/2017 của TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tranh chấp về hợp đồng tín dụng - Tranh chấp hợp đồng tín dụng (19.08.2017) Bản án: số 140 ngày 01/08/2017 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An dân sự - Tranh chấp hợp đồng tín dụng (09.09.2017)
Văn bản hợp nhất 08/VBHN-BTTTT năm 2022 hợp nhất Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P và Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số 51F-408.85 do Phòng CSGT-ĐS Công an Thành phố
Tóm tắt bản án số 02/2022/KDTM-ST, ngày 21/3/2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụ Bài viết Thủ tục pháp luật Hướng dẫn sử dụng Xếp hạng Hỏi đáp pháp luật
Liên quan đến việc thi hành Bản án số 01/2017/KDTM-ST, ngày 25/9/2017 của TAND tỉnh về tranh chấp hợp đồng tín dụng, công dân H.K.D. (trú tại thị trấn Quán Hàu, Quảng Ninh) đã có đơn tố cáo đối với bà Nguyễn Thị Hoài, CHV Cục THADS tỉnh có nhiều sai phạm trong việc thi
chtiêu cụ thể… nhằm làm rõ được thực trạng và chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60 4.1. Thực trạng tín dụng của NHNo PTNT chi nhánh Thanh trì: 4.1.1.
MNLjjVx. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNHBẢN ÁN 11/2022/DS-ST NGÀY 29/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNGNgày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2022 giữa- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S;Địa chỉ Lầu x, xyz - ABC Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường S, Quận D, Thành phố Hồ Chí đại diện theo pháp luật Bà Nguyễn Đức Thạch Đ, chức vụ Tổng Giám đại diện theo ủy quyền Ông Nguyễn Đăng D, chức vụ Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình theo quyết định v/v ủy quyền ký hợp đồng, thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 3161/2021/QĐ-PL ngày 27/12/2021.Người được ủy quyền lại Ông Phan Thanh L, chức vụ Chuyên viên kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S chi nhánh Thái Bình; địa chỉ Số K Trần Thái Tông, tổ V, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình theo giấy ủy quyền số 02/2022/GUQ-CNTB ngày 31 tháng 5 năm 2022.- Bị đơn Chị Lưu Thị Vân H, sinh năm 1981; địa chỉ Thôn Th, xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị H vắng mặt.NỘI DUNG VỤ ÁN* Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bàyNgày 05 tháng 8 năm 2022, chị Lưu Thị Vân H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S sau đây gọi tắt là Ngân hàng - Chi nhánh Thái Bình Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ thu nhập của chị H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, ngày chốt thông báo giao dịch là ngày 22 hàng tháng. Lãi suất trong hạn tại thời điểm làm thẻ là 2,6%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn, lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau. Theo Hợp đồng, chị H phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện giao dịch rút tiền mặt tại máy ATM với tổng số tiền là quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 22 tháng 10 năm 2021, chị H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng. Số tiền đồng được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, cụ thể như sau “Điều 21. Thứ tự ưu tiên thanh toán Trừ trường hợp Sacombank có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như saua Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; b Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt của kỳ trước; c Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến của kỳ trước; d Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; e Giao Dịch Rút Tiền Mặt/tương đương Rút Tiền Mặt trong kỳ; f Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến trong kỳ”. Từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 đến nay, chị H không thanh toán cho Ngân hàng bất cứ khoản tiền nào khác. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên theo quy định của Ngân hàng sau 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp, chị H không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng sẽ chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá vậy, từ ngày 22 tháng 01 năm 2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 29 tháng 9 năm 2022, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là đồng nợ phát sinh đầu kỳ 22 tháng 01 năm 2022 + giao dịch + phí trễ hạn + lãi + phí - thanh toán và nợ lãi quá hạn tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc đồng với lãi suất quá hạn là 3,9%/1 tháng 2,6%*150% từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ chị H còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến ngày chị H thanh toán tiếp theo và lãi tiếp tục phát sinh trên dư nợ gốc còn tiền nợ lãi quá hạn đồng yêu cầu chị H thanh toán cho Ngân hàng bao gồm tiền lãi từ ngày 22/01/2022 đến ngày 29/9/2022, có công thức tính như sau Lãi 1 ngày là đồng x 3,9%/30 = đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến ngày 22/02/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/02/2022 đến ngày 22/03/2022 có 28 ngày với số tiền lãi là x 28 = đồng. Từ ngày 22/03/2022 đến ngày 22/04/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/04/2022 đến ngày 22/05/2022 có 30 ngày với số tiền lãi là x 30 = đồng. Từ ngày 22/05/2022 đến ngày 22/06/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/06/2022 đến ngày 21/07/2022 có 29 ngày với số tiền lãi là x 29 = đồng. Từ ngày 22/07/2022 đến ngày 22/08/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/08/2022 đến ngày 22/09/2022 có 31 ngày với số tiền lãi là x 31 = đồng. Từ ngày 22/09/2022 đến ngày 29/09/2022 có 7 ngày với số tiền lãi là x 7 = đồng.Đến nay Ngân hàng đề nghị Toà giải quyết Buộcc chị H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29 tháng 9 năm 2022 là đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.* Chị Lưu Thị Vân H đã được Tòa án triệu tập để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa, nhưng chị H đều vắng mặt không lý do. Vì vậy chị H không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền đồng trong đó nợ gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, chị Lưu Thị Vân H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu chị Lưu Thị Vân H trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, chị Lưu Thị Vân H cư trú tại xã Th, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[2] Về thủ tục tố tụng Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.[3] Nội dung[ Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy Thỏa thuận của Ngân hàng và chị H trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05 tháng 8 năm 2020 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên xác định Hợp đồng là hợp pháp.[ Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền đồng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng vào ngày 22 hàng tháng, chị H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng đến ngày 22 tháng 01 năm 2022 chị H mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền đồng. Từ ngày 22/01/2022 đến nay chị H không trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi theo thỏa thuận. Do chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định của Ngân hàng trong 3 kỳ thông báo giao dịch liên tiếp 22/11/2021;22/12/2021; 22/01/2022 nên Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tính từ ngày 22/01/2022 với mức lãi suất các bên thỏa thuận bằng 150% mức lãi trong hạn. Chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; vi phạm Điều 19, Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Điều 24 quy định “Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ TBGD tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng. Khi vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Sacombank có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau Tạm ngưng hoặc Chấm Dứt sử dụng Thẻ và thu hồi toàn bộ Dư Nợ; Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Sacombank. Sau 75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 ba kỳ TBGD liên tiếp, nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số Tiền Tối Thiểu, Sacombank sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻ của Chủ Thẻ”.[ Về số tiền gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với Điều 19; Điều 23 và Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng “ Chủ thẻ phải thanh toán cho Sacombank số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn được ghi trên thông báo giao dịch”; chi tiết Điều 23 quy định “Cách tính lãi Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên thẻ. Lãi được tính như sau a Đối với giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến không áp dụng với thẻ nội địa, phí, lệ phí Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho Sacombank đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong Thông báo giao dịch hiện tại và đối với bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước ngày đến hạn. Lãi được tính từ ngày giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn theo TBGD thì chủ thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại TBGD hiện tại. Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đế hết ngày chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng/đã rút. Sacombank có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho chủ thẻ”. Do vậy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc chị H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền gốc là đồng, lãi quá hạn là đồng; tổng cộng là đồng và chị H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 7, 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.[ Về án phí dân sự sơ thẩm Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNHCăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 119, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S Buộc chị Lưu Thị Vân H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng ngày 05/8/2020 số tiền là Nợ gốc là đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 29/9/2022 là đồng, tổng cộng đồng Ba mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng.Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Lưu Thị Vân H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Ngân hàng. Lãi suất mà chị Lưu Thị Vân H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần S.[2] Về án phí Buộc chị Lưu Thị Vân H phải nộp Một triệu năm trăm mười ba nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001259 ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.[3] Về quyền kháng cáo Ngân hàng thương mại cổ phần S, chị Lưu Thị Vân H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG BẢN ÁN 43/2018/DS-ST NGÀY 07/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN Ngày 07 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018, giữa Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V; trụ sở chính Số 35, quận K, Thành phố H; địa chỉ chi nhánh Nam Bình Dương Số 10, KCN A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ông Bùi Tá H, sinh năm 1983; trú tại 3/2 ấp B, xã T, huyện T1, tỉnh Đ – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo Quyết định ủy quyền ngày 02/01/2018. Có mặt. Bị đơn Ông Lâm Thành C, sinh năm 1984 và bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1988; cùng trú tại 33 Lô V, Phường 8, Quận 4, Thành phố M. Vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị Thiên L, sinh năm 1972; trú tại 132/1 ấp G, xã G3, huyện N, tỉnh N1. Vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày Thực hiện việc ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần V viết tắt là Ngân hàng V, ngày 27/4/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương có ký hợp đồng tín dụng vay tài sản với vợ chồng ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P số 485/2016/8510081/HĐTD. Theo hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Nam Bình Dương cho ông C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, lãi suất trong hạn là 9,5%/năm cố định trong 24 tháng đầu năm kể từ thời điểm giải ngân lần đầu. Sau đó, áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo chính sách lãi suất của ngân hàng áp dụng trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Trả nợ vào ngày 10 tây hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10/6/2016, ngày trả nợ gốc cuối cùng là ngày 27/4/2023 theo lịch cụ thể hàng tháng ông C, bà P trả số tiền vay là đồng. Để đảm bảo khoản nợ trên, ông C, bà P và Ngân hàng V – Chi nhánh Nam Bình Dương ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016, tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do Phòng CSGT-ĐS Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/4/2016 cho ông Lâm Thành C. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 27/3/2008 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V tổng số tiền nợ vay là đồng, trong đó số tiền vay gốc là đồng, số tiền lãi là đồng từ ngày 13/6/2016 đến ngày 21/7/2017 thì ngưng không thanh toán cho đến nay nên dẫn đến khoản nợ vay bị quá hạn và chuyển thành nợ xấu. Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 07/6/2018 là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không tự nguyện thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm hợp pháp của ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P là chiếc xe ôtô hiệu Chevrolet AveoLT, biển số để thu hồi nợ. Bị đơn – ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng xem như đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định [1] Về tố tụng Toà án đã tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thiên L vẫn cố tình vắng mặt. Như vậy, việc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về quan hệ tranh chấp Căn cứ giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 và hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P thể hiện nội dung Ngân hàng thương mại cổ phần V có ông C, bà P vay số tiền đồng, mục đích vay là để mua xe ô tô con, thời hạn vay là 84 tháng, có thế chấp tài sản là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số nên quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 nay là Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. [3] Về thẩm quyền giải quyết Căn cứ đơn khởi kiện và nội dung thỏa thuận tại điểm b mục 8 Hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [4] Về nội dung Xét hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 được giao kết giữa Ngân hàng V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà P đã thanh toán được cho Ngân hàng V được số tiền vay gốc là đồng, số tiền lãi là đồng. Kể từ ngày 21/7/2017 đến thời điểm Ngân hàng V khởi kiện, ông C, bà P không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, như vậy ông C, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng V. Do đó, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng là có cơ sở chấp nhận. Xét hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P được ký kết với người có thẩm quyền, đúng thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Theo đó, ông C và bà P đã dùng tài sản là chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do ông Lâm Thành C đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Nay ông C, bà P không thanh toán nợ nên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đảm bảo để thanh toán nghĩa vụ trả nợ. [4] Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016. [5] Đối với hợp đồng cho vay tiền ngày 23/7/2017 giữa bà Nguyễn Thị Thiên L với ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P do nguyên đơn cung cấp có thể hiện nội dung “...Ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P đồng ý thế chấp chiếc xe ô tô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số và giao toàn bộ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu cho bà Nguyễn Thị Thiên L…”. Xét quá trình giải quyết vụ án, ông Lâm Thành C, bà Trần Thị Ngọc P và bà Nguyễn Thị Thiên L đều vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh về tài sản thế chấp nên không xem xét trong vụ án này, nếu các bên có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. [6] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An là phù hợp. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm b Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 471, Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005 nay là Điều 463, Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015. - Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P. Buộc Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016 là đồng Ba trăm hai mươi bảy triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng, trong đó nợ gốc là đồng, nợ lãi trong hạn đồng và lãi quá hạn là đồng. Trường hợp ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P không thanh toán nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là chiếc xe ôtô con hiệu Chevrolet Aveo LT, số khung RllSF69YDGH933520, số máy F15S3160110011, biển số do ông Lâm Thành C đứng tên trên giấy đăng ký xe ôtô theo hợp đồng thế chấp tài sản số 409/2016/8510081/HĐBĐ ngày 27/4/2016. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 08/6/2018 cho đến khi ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P trả xong các khoản nợ mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 485/2016/8510081/HĐTD ngày 27/4/2016. 2. Án phí dân sự sơ thẩm Ông Lâm Thành C và bà Trần Thị Ngọc P phải chịu đồng Mười sáu triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V đồng Bảy triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018410 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. 3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nguồn
Số hiệu 242/2006/KDTM-PT Tiêu đề Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngày ban hành 21/11/2006 Cấp xét xử Phúc thẩm Lĩnh vực Kinh tế TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI - Bản án số242/2006/KDTM-PT Ngày 21/11/2006 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc - NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Cáp Văn Chinh; Các Thẩm phán Ông Đào Văn Tiến; Ông Nguyễn Huy Chương. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa Ông Phạm Trí Trung, cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Ngày 21 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số42/2006/TL-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2006 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các đương sự * Nguyên đơn Ngân hàng Công thương Việt Nam; Trụ sở 108 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đại diện ông Tô Văn Chánh – Giám đốc Ngân hàng Công thương chi nhánh O, được Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam ủy quyền tham gia tại phiên tòa phúc thẩm. * Bị đơn Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng; Trụ sở 201 phố Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đại diện ông Nguyễn Thanh Hùng, được tổng giám đốc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng ủy quyền tham gia tại phiên tòa phúc thẩm. Có luật sư Phan Thị Hương Thủy bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tại phiên tòa. NHẬN THẤY Ngày 07-3-1995, Công ty xuất nhập khẩu sản xuất cung ứng vật tư, bộ Giao thông vận tải nay chuyển đổi là Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng có thư bảo lãnh số 142 cho Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex là đơn vị thuộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng vay tiền của Chi nhánh ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam. Thư bảo lãnh với số tiền 10 tỷ đồng có tài khoản 710-A00477 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam và tài khoản ngoại tệ số 362-111-37-0333 tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Từ sự bảo lãnh này, Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex đã lập khế ước vay Ngân hàng như sau 1. Ngày 29-7-1995 mở L/C số 0104106/T95LC91 trả chậm một năm không quy định lãi suất, nhưng có phí chuyển tiền với số tiền là USD. Từ ngày 23-8-1996 đến ngày 15-11-1996 đã trả được USD. Đến nay còn nợ gốc USD. 2. Khế ước số 95000634 ngày 02-10-1995 vay số tiền là đồng hai tỷ năm trăm triệu đồng và đã trả lãi trong hạn được đồng. 3. Khế ước số 9500034 ngày 29-11-1995 vày đồng ba tỷ đồng. Chưa trả được gốc và lãi quá hạn. 4. Khế ước số 9501051 ngày 26-12-1995 vay đồng sáu tỷ ba trăm bảy lăm triệu đồng, hợp đồng ngoại tệ còn nợ USD. Ngày 15-4-1997 Ngân hàng Nhà nước có công văn số 109 và ngày 26-4-1997 Ngân hàng Công thương Việt Nam có công văn số 867 cho Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng được khoanh nợ 5 năm là được trừ lãi đã thu vào gốc là đồng, Như vậy, tổng số tiền mà phía bị đơn đã trả được đồng tiền gốc. Còn nợ gốc sau khoanh nợ là đồng và USD. Hết thời gian khoanh nợ, ngày 02-02-2004 Ngân hàng Công thương đã đến Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex lập biên bản nhận nợ và hai bên đã xác nhận với nhau Sài Gòn Vietracimex còn nợ Ngân hàng là đồng tiền gốc và đồng tiền lãi quá hạn. Về ngoại tệ nợ gốc USD, lãi nợ quá hạn USD. Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án Hà Nội, nguyên đơn đều yêu cầu Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là người bảo lãnh cho chi nhánh Sài Gòn Vietracimex vay số tiền trên của Ngân hàng từ năm 1995 đến nay chưa thanh toán phải có trách nhiệm thanh toán cho phía ngân hàng toàn bộ tiền gốc và lãi quá hạn. Phía bị đơn ông Vũ Đức Toàn đại diện cho Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng trình bày ông nhất trí với lời khai của ông Đặng Đình Dũng – Giám đốc chi nhánh Sài Gòn Vietracimex đã trình bày tại Tòa án Hà Nội và xác nhận số nợ của chi nhánh Sài Gòn tại biên bản đối chất và hòa giải không thành ngày 07-9-2004. Trước kia Tổng công ty có thư bảo lãnh cho chi nhánh vay tiền của Ngân hàng Công thương, đã trả được một số và đã trả được khoanh nợ 5 năm, đến nay còn nợ đồng Việt Nam và USD và lãi suất quá hạn. Nhưng nay Tổng công ty không chấp nhận trả lãi, đề nghị Ngân hàng xem xét vì số tiền này Công ty đã bị một số cán bộ gây thất thoát, đã bị xét xử theo pháp luật và đến nay chưa bồi thường cho Công ty nên Công ty chưa có thể trả lại cho Ngân hàng và đề nghị Ngân hàng xem xét lãi suất quá hạn. Quá trình giải quyết vụ kiện bị đơn chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần hóa. Vì thế ngày 24-01-2005 Tòa án Hà Nội ra quyết định tạm đình chỉ số 02 với lý do chờ kết quả cơ quan khác giải quyết rồi mới giải quyết tiếp. Sau khi Tòa án Hà Nội có quyết định tạm đình chỉ ngày 27-01-2005 Ngân hàng Công thương Việt Nam đã kháng cáo. Ngày 22-02-2006, Ngân hàng Công thương Việt Nam có đơn xin rút kháng cáo tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Ngày 06-3-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và giao hồ sơ về Tòa án Hà Nội giải quyết tiếp việc kiện. Ngày 16-3-2006 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thụ lý giải quyết tiếp vụ kiện trên. Tại bản án sơ thẩm số46/2006/KDTM-ST, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định Căn cứ các Điều 29, 58, 60, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Căn cứ các Điều 361, 362, 388 Bộ luật dân sự năm 2005, Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 60 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 và NĐ 70/CP của Chính phủ quy định án phí, xử 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Công thương Việt Nam. 2. Buộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng Vietracimex có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng Công thương Việt Nam, toàn bộ tiền gốc và lãi quá hạn còn nợ trong các hợp đồng tín dụng tổng cộng là đồng mười tỷ bảy trăm tám ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, bên thanh toán chưa trả thì phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của pháp luật. 3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự. Về án phí Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm là đồng ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn một trăm ba mươi ba đồng. Tòa án cấp sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 19-6-2006 người đại diện Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là ông Võ Nhật Thắng kháng cáo cho rằng quyết định của bản án sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết của vụ án, không đúng pháp luật, đề nghị xem xét toàn bộ vụ án sơ thẩm. Ngày 20-6-2006 người đại diện Ngân hàng Công thương Việt Nam là ông Tô Văn Chánh kháng cáo cho rằng cách tính số tiền lãi trong phần quyết định của bản án sơ thẩm là không đúng với các quy định pháp luật về tín dụng, đề nghị xem xét lại. XÉT THẤY Bản án dân sự số 46 ngày 2, 5 tháng 6 năm 2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là dựa trên cơ sở chứng cứ. Có việc hai bên ký kết các hợp đồng tín dụng được lập dưới hình thức khế ước nhận nợ, gồm 03 khế ước. 1. Khế ước số 9500634 ngày 02-10-1995 số tiền vay nợ là 2,5 tỷ đồng. Đã trả được 625 triệu đồng còn nợ 1,875 tỷ đồng. 2. Khế ước nhận nợ số 9500934 số tiền là 3 tỷ đồng chưa trả. 3. Khế ước số 9501051 ngày 26-12-1995 số tiền là 1,5 tỷ đồng chưa trả. Ngoài ra 03 khế ước nhận nợ trên còn một khoản nợ của thư tín dụng là USD đã trả USD còn nợ USD. Việc đối chiếu các khoản nợ nêu trên đã được hai bên bàn bạc và thống nhất với nhau trong các buổi làm việc được lập thành biên bản có trong hồ sơ. Và tại các biên bản hòa giải không thành cũng đều có ghi rõ các khoản nợ đó. Từ đó mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định buộc bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn khoản tiền còn nợ cả gốc và lãi. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phía bị đơn đã phản bác lại quyết đinh của án sơ thẩm cụ thể những vấn đề sau Thứ nhất là về chủ thể trong quan hệ dân sự phía bị đơn cho rằng các văn bản bảo lãnh của Tổng công ty chỉ bảo lãnh cho đến hết thời hạn khi mà công ty đã chuyển sang hợp nhất là ngày 27-11-1995. Còn các khế ước ký sau ngày đó là không có hiệu lực. Vấn đề nữa là đối với việc bảo lãnh thư tín dụng không thuộc trong diện bảo lãnh của văn bản bảo lãnh 142 của Tổng công ty đối với chi nhánh, cho nên Tổng công ty không chịu trách nhiệm. Xét thấy trong quan hệ về việc dân sự trong vụ án này giữa Tổng công ty và công ty chi nhánh phải được xét theo nguyên tắc thực hiện của Luật Doanh nghiệp năm 1995. Luật có hiệu lực từ 20-4-1995. Tại Điều 19 của luật có quy định – chi nhánh của doanh nghiệp Nhà nước không có tư cách pháp nhân, doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm dân sự đối với chi nhánh của doanh nghiệp. Vậy thì mọi quy định của Tổng công ty đối với chi nhánh mà trái với quy định của điều luật đều không được pháp luật thừa nhận – mà chỉ có giá trị trong nội bộ của Tổng công ty mà thôi. Đối chiếu với trường hợp cụ thể này thì Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng là bị đơn trong vụ án này phải chịu trách nhiệm dân sự với mọi trường hợp của chi nhánh trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình, còn mọi quy định về trách nhiệm mà chi nhánh làm sai thì chi nhánh chịu trách nhiệm đối với Tổng công ty. Từ phân tích trên thấy án sơ thẩm xác định Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu trách nhiệm trả nợ gốc đối với Ngân hàng Công thương chi nhánh I thành phố Hồ Chí Minh về cả 03 khế ước và khoản nợ theo thư tín dụng là đúng vì các khế ước và thư tín dụng đều được lập kể từ sau ngày Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1999 có hiệu lực thi hành. Ngoài việc quy định tại Điều 19 của Luật doanh nghiệp Nhà nước đã viện dẫn ở trên thì nay Tổng công ty đã tiến hành cổ phần hóa thì Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng cũng vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ trên vì tại Điều 8 Nghị đình số 187/2004 ngày 16 tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty Nhà nước thành Công ty cổ phần của Chính phủ có quy định tại Điều 8 Nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần được chuyển đổi từ Công ty Nhà nước “1. … 2. Công ty cổ phần được chủ động sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn đã cổ phần hóa để tổ chức sản xuất, kinh doanh kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm của Công ty Nhà nước trước khi cổ phần hóa và có các quyền nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.” Thứ hai xét về nội dung để quy kết có trách nhiệm trả nợ thì thấy Tại phiên tòa cũng như những chứng cứ mà phía bị đơn xuất trình đều đã được xem xét tại phiên tòa. Cụ thể các khế ước nhận nợ là đều có, có việc chi nhánh đã nhận tiền vay bằng séc. Sau đó nhập về quỹ của Công ty và tiếp đó chuyển về Ngân hàng Công thương chi nhánh IV. Tiếp đó chuyển trả nợ vay về Ngân hàng Công thương chi nhánh I, nhưng tất cả số tiền chuyển trả theo cách lập phiếu ủy nhiệm chi, nhưng là chuyển trả vào khoản nợ vay trước đó. Cụ thể khi vay thì vay từ tài khoản có ký hiệu …B, khi trả thì chuyển về tài khoản có ký hiệu …A, hai tài khoản này khác nhau nên không được coi là đã trả nợ xong, vì trên thực tế thì chi nhánh còn nợ Ngân hàng Công thương chi nhánh I nhiều món nợ trước đó chưa trả. Vì theo nghiệp vụ ngân hàng quy định mỗi khế ước vay đều có mã số tài khoản của khế ước đó nên khi vay ở khế ước nào thì khi trả phải trả đúng vào khế ước đó mới được công nhận là có trả. Về khoản thanh toán khoản tiền nợ mở thư tín dụng Xem xét trên thực tế thì Ngân hàng đã thanh toán trả chủ hàng Hàn Quốc toàn bộ số tiền theo như hợp đồng. Còn phía Chi nhánh Sài Gòn Vietracimex mới thanh toán trả về cho Ngân hàng 03 phiếu theo như Ngân hàng đã xuất trình. Nay phía bị đơn chỉ chứng minh được mới chuyển trả tiền về đến Ngân hàng Công thương IV nhưng cũng vẫn chưa đủ, nên không có căn cứ là đã thanh toán xong mà chỉ có căn cứ như án sơ thẩm đã quyết về khoản nợ này là chính xác. Căn cứ vào việc chứng minh rằng những chứng cứ mà phía nguyên đơn xuất trình thì thấy việc thừa nhận của bị đơn trước đây trong quá trình xây dựng hồ sơ trong các lời khai và trong các buổi hòa giải đều thừa nhận là còn nợ các khoản tiền theo như án sơ thẩm đã quy kết là hoàn toàn đúng. Về khoản tiền lãi bản án sơ thẩm đã căn cứ vào đề nghị của phía nguyên đơn trên cơ sở tại các đơn khởi kiện và các văn bản mà phía ngân hàng đã dựa trên cơ sở quy định của Ngân hàng Nhà nước để tính mức lãi suất là có căn cứ nay phía Ngân hàng đề nghị được tính với mức lãi suất cao hơn theo một mức như ở tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm là không thể chấp nhận được mà cần giữ nguyên khoản tiền lãi như án sơ thẩm đã quyết định. Bởi các lẽ trên, Căn cứ vào khoản 3 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự. QUYẾT ĐỊNH Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn và đơn kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. - Căn cứ các Điều 29, 58, 60, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. - Căn cứ các Điều 361, 362, 363, 388 Bộ luật dân sự năm 2005. - Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 60 Luật tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 và Nghị định 70 của Chính phủ quy định về án phí. 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Công thương Việt Nam. 2. Buộc Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng Vietracimex có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng Công thương Việt Nam toàn bộ số tiền gốc và lãi quá hạn còn nợ trong các hợp đồng tín dụng, tổng cộng là đồng mười tỷ bảy trăm tám mươi ba triệu một trăm ba mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng. Kể từ ngày bản có có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong bản án tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành. 3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự. Về án phí Tổng công ty cổ phần thương mại xây dựng phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm là đồng ba mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn một trăm ba mươi ba đồng. Ngân hàng Công thương Việt Nam được lấy lại dự phí kháng cáo đã nộp đồng Mười lăm triệu đồng tại tài khoản số kho bạc Hà Nội của Phòng thi hành án dân sự Hà Nội. Các đương sự kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm dân sự kinh tế mỗi đương sự là đồng. Được trừ vào khoản tiền dự phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 007395 ngày 26-6-2006 và biên lai số 007389 ngày 19-6-2006 của Phòng thi hành án thành phố Hà Nội. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận - TAND thành phố Hà Nội - VKSNDTC Viện PT1 - VKSND thành phố Hà Nội - CQTHADS Hà Nội - Nguyên đơn theo đ/c - Bị đơn theo đ/c - Lưu 2b ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cáp Văn Chinh Đã ký
bình luận bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng